Trợ từ tiếng Nhật

11/6/2018 3:22:26 PM
Trợ từ trong tiếng Nhật giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Hiện nay, trong tiếng Nhật có hơn 80 loại trợ từ với hàng trăm ý nghĩ khác nhau. Dựa vào tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp của chúng với những từ loại nào) mà trợ từ có thể được phân chia làm nhiều nhóm.

Trong tiếng Nhật có tới hơn 80 loại trợ từ với hàng trăm ý nghĩa khác nhau. Dựa vào tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp của chúng với những từ loại nào) mà trợ từ có thể được phân chia làm nhiều nhóm. Có nhóm trợ từ thuần túy ngữ pháp như "trợ từ cách" (が, へ, で, と...). Có nhóm trợ từ chuyên dùng để biến đổi thể thức của từ (biến động từ thành danh từ - gọi là danh hóa động từ như no, koto...), có nhóm trợ từ liệt kê と, て, や... tương đương với các liên từ "và", "với" trong tiếng Việt. Lại có nhóm biểu thị ngữ dụng như "trợ từ quan hệ" は, も, こそ... Ngoài ra là các nhóm trợ từ biểu thị ngữ khí như "trợ từ trung gian" さ, ね, な..., "trợ từ kết thúc" か, わ, ぞ... Loại này có khi chỉ là các từ cảm thán không thể dịch ra tiếng nước ngoài. 

 

Tro tu tieng Nhat

 

Với một diện hoạt động rộng và phong phú như vậy, có thể nói phạm vi "trợ từ tiếng Nhật" rộng hơn bất cứ quan niệm nào về các loại từ bổ trợ như: "Hư từ ngữ pháp", "hư từ tình thái" trong tiếng Việt, "giới từ" của tiếng Anh, "tiếp vĩ ngữ", "liên từ", "thán từ", "phó từ" của tiếng Nga, tiếng Pháp... Tóm lại. "trợ từ tiếng Nhật" bao gồm tất cả các loại này, gọi chung chúng bằng cái tên "trợ từ".

Tro tu tieng Nhat

1. Khái niệm chung về trợ từ trong tiếng Nhật

Trong tiếng Nhật, đặc biệt là trong ngôn ngữ viết, chúng ta thường gặp những cấu trúc có trợ từ như sau:

(1)     むかし、ある所におじいさんとおばあさんがいました。(Mukashi, aru tokoro ni ojiisan to obaasan ga imashita.) (Ngày xưa, ở một nơi nọ có một ông già và một bà lão.)

Trong câu (1) có các trợ từ ni, to, ga. Trợ từ ni biểu thị cụm từ đứng trước nó – aru tokoro (một nơi nọ) là địa điểm của động từ tồn tại imashita (có); trợ từ to biểu thị từ đứng trước nó – ojiisan (ông lão) và từ đứng sau nó obaasan (bà lão) có mối liên hệ ngang hàng, có thể dịch trợ từ to trong trường hợp này là “và” (một ông lão và một bà lão); trợ từ ga chỉ ra từ đứng trước nó – ojiisan to obaasan (một ông lão và một bà lão) là chủ thể của hành động tồn tại imashita (có).

(2)     ある日、おじいさんは山へしばりに行き、おばあさんは川へ洗濯に行きました。(Aru hi, ojiisan ha yama he shibari ni iki, obaasan ha kawa he sentaku ni ikimashita.) (Một hôm, ông lão thì lên núi kiếm củi, còn bà lão thì ra sông giặt.)

Trong câu (2) có các trợ từ は, へ, に xuất hiện hai lần ở hai mệnh đề câu. Trợ từ は biểu thị ojiisan (ông già) và obaasan (bà lão) là chủ thể của hành động いき (đi); trợ từ へ chỉ やま (núi) ở mệnh đề thứ nhất và かわ (sông) ở mệnh đề thứ hai là hướng của hành động đi; trợ từ に trong mệnh đề thứ nhất chỉ ra しばり (kiếm củi) là mục đích của hành động いき (đi) - đi kiếm củi và trợ từ に trong mệnh đề thứ hai biểu thị せんたく (giặt) là mục đích của hành động いきました (đi) - đi giặt.

Như vậy, các cấu trúc câu trên đều chứa trợ từ. Các trợ từ bổ trợ ý nghĩa ngữ pháp như が, へ, に... đều gắn với những từ đứng trước nó để chỉ ra từ đó là tham tố chủ thể, địa điểm, phương hướng hay mục đích của động từ vị ngữ. Người Nhật gọi nhóm này là các "trợ từ cách" và coi chúng như các đơn vị "dán nhãn ngữ pháp"[1] cho các yếu tố đứng trước chúng.

Trong các ví dụ trên, ta còn gặp trợ từ wa đứng ở vị trí chủ thể thay cho trợ từ が. Trợ từ wa không phải là trợ từ cách, nó thuộc nhóm "trợ từ quan hệ". Trợ từ wa biểu thị phần đứng trước nó là phần đề, phần nêu đối tượng của thông báo.

Vậy thì trợ từ là gì? Trợ từ tiếng Nhật được quan niệm rất rộng. Nó bao gồm nhóm trợ từ thuần túy mang ý nghĩa ngữ pháp gọi là "trợ từ cách", nhóm "trợ từ biểu thị ý nghĩa quan hệ" (so sánh, lựa chọn, nhấn mạnh) của yếu tố ngôn ngữ mà nó đi kèm, nhóm "trợ từ liệt kê" có thể dịch tương đương với các yếu tố "và, với, cùng"... trong tiếng Việt; "trợ từ định danh" - là phương tiện chuyên biệt để biểu thị sở hữu cách, danh hóa động từ... Ngoài ra còn các loại "trợ từ gián đoạn", "trợ từ kết thúc" biểu thị ngữ khí của câu...

Nhưng đối với tiếng Việt, không thể tìm ra nhóm từ loại nào có ý nghĩa tương đồng với nhóm trợ từ tiếng Nhật. Đặc biệt là với nhóm "trợ từ cách" trong tiếng Nhật. Có thể nói, nhóm trợ từ thuần túy ngữ pháp này là một loại từ rất đặc biệt, là những đơn vị "dán nhãn" ngữ pháp mà hoạt động của nó đã nói lên một cách đầy đủ nhất đặc trưng loại hình quan trọng của tiếng Nhật: một ngôn ngữ đa âm tiết chắp dính.

So sánh với tiếng Việt, một ngôn ngữ “đơn lập phân tích tính”, ta thấy ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện qua trật tự từ trong câu như ví dụ dưới đây:

(3)     Chị tôi khen em bé.                 Chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ

(4)     Em bé khen chị tôi.                  Chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ

Ở câu (3) "chị tôi" là chủ thể, là người gây ra hành động "khen" và "em bé" là đối tượng của hành động "khen". Khi đổi vị trí của các danh từ trong câu như câu (4) thì chức năng ngữ pháp của các danh từ này trong câu hoàn toàn thay đổi, ý nghĩa của câu cũng bị biến đổi. Lúc này "em bé" lại là người gây ra hành động "khen" và "chị tôi" là đối tượng của hành động - tức là người được khen.

Trong tiếng Nhật hoàn toàn khác. Trừ vị trí cố định của động từ (hoặc tính từ) - vị ngữ ở cuối câu, các yếu tố khác đều có thể di chuyển vị trí một cách khá tự do. Ví dụ:

(5)     姉-が子-をほめる?。            Chủ ngữ (-が) bổ ngữ (-を) vị ngữ

(Ane-ga ko-wo homeru) (Chị tôi khen em bé)

(6)     子-を姉-がほめる?。            Bổ ngữ (-を) chủ ngữ (-が) vị ngữ

(Ko-wo ane-ga homeru)           (Chị tôi khen em bé)

Nhờ vào sự "dán nhãn" của các trợ từ "が" và "を" đối với các danh từ đứng trước nó - "あね" (chị tôi) và "こ" (em bé), các danh từ này có thể đổi chỗ cho nhau mà câu không biến đổi nghĩa.

Như vậy, trợ từ, đặc biệt là trợ từ cách có vai trò rất quan trọng. Tuy chúng không được dịch ra bằng đơn vị từ vựng tương đương, cụ thể nào, nhưng sự kết hợp chặt chẽ giữa chúng với các từ đứng trước đã tạo ra những đơn vị cú pháp, những thành phần câu cơ bản. Chúng ta có thể hình dung các từ tố là "những viên gạch", còn trợ từ là "chất vữa" để gắn kết những viên gạch đó, đem đến cho chúng ta một giá trị hiện thực nhất định tạo nên "ngôi nhà" - câu.

2. Phân loại trợ từ tiếng Nhật

Trợ từ tiếng Nhật từ rất lâu đã được các học giả Nhật Bản quan tâm nghiên cứu và tiến hành phân loại theo nhiều hướng khác nhau. Trong khuôn khổ có hạn của bài viết, chúng tôi xin được bỏ qua các học giả thời Tokugawa để trình bày những quan điểm đáng lưu tâm của các học giả tính từ thời Minh Trị (1868-1912) trở đi.

Otsuki Fumihiko đưa ra hai cách phân loại khác nhau:

Cách phân loại thứ nhất, dựa trên cách sử dụng trợ từ ông chia “て-に-を-は” thành ba nhóm:

  • Nhóm 1: Các trợ từ chỉ liên kết với danh từ - gọi là tĩnh từ "て-に-を-は": 1-が; 2-の, が, つ; 3-に; 4-を;5-と,も;6-へ; 7-より, から;8-まで。
  • Nhóm 2: Các trợ từ kết hợp với các từ loại khác: 9-わ,ば;10-も;11-ぞ, なみ, なも, し;12-こそ;13-だに, すら;14-さえ; 15-のみ, ばかり;16-や, か.
  • Nhóm 3: Chỉ kết hợp với động từ (hoặc các từ có tính chất động từ): 17-ば;18-と;19-に, を, が; 20-て (にて, とて, して, にして, として);21-で, 22-ずつ.

Cách phân loại thứ hai dựa trên ý nghĩa chức năng, được nhiều học giả chấp thuận hơn:

  • Nhóm 1: các trợ từ biểu thị chủ ngữ: が,の; kết hợp hai danh từ: の,か; đối tượng: に, を, と; biểu thị phương hướng: へ, より, から, で.
  • Nhóm 2: ý nghĩa phân chia, kết hợp: わ, と; ý nghĩa chỉ trỏ: ぞ, なみ, こそ; ý nghĩa tường minh: だに, すら, さえ; ý nghĩa giới hạn: のみ, ばかり; nghi vấn: や, か.
  • Nhóm 3: ý nghĩa giả định: ba; ý nghĩa bác bỏ, cự tuyệt: と, とも, ど, ども; đưa ra sự đối lập ý nghĩa: ga; kết thúc và liên kết: て, で, つつ.

Ủy ban nghiên cứu quốc ngữ Nhật Bản đưa ra cách phân loại dựa trên tiêu chí hình thức, chia trợ từ ra làm 4 nhóm lớn:

  1. Các trợ từ kết hợp với thể ngôn, dụng ngôn và các từ khác.
  2. Các trợ từ chỉ kết hợp với dụng ngôn.
  3. Các trở từ chỉ kết hợp với thể ngôn.
  4. Các trợ từ kết hợp với dụng ngôn và các từ khác.

Mỗi nhóm đều đưa ra những trợ từ cụ thể với các đặc điểm chức năng riêng biệt.

- Nhóm 1: Các trợ từ kết hợp với thể ngôn, dụng ngôn và các từ khác:

か(câu hỏi); から (nguồn gốc và phạm vi của hành động); きり, ぎり (giới hạn); ぐらい (chỉ mức độ, gần đúng); こそ (nhấn mạnh ý nghĩa); さ (nói nhẹ nhàng, không nhấn mạnh); さえ, さえも (có ý nghĩa giống như だけ khi chỉ một vật nào đó với mục đích nhấn mạnh nó và loại bỏ các sự vật khác); しか (chỉ giới hạn); だけ, だけに (biểu hiện mức độ giới hạn); で, でも (chỉ định); と, とも, とても, たって, たっても (cộng thêm giá trị); どころ, ここ (gợi lên ví dụ); など (liệt kê sự vật cùng loại); なり, なりとも, なりと (có ý nghĩa như そのまま sonomama - nguyên trạng thái như vậy); でも (dù, dẫu, cũng được); に, にして (chỉ địa điểm); の (định danh); ばかき (giới hạn); ほか (chỉ một sự vật loại trừ các sự vật khác); ほど (mức độ gần đúng); まで (mức độ gần đúng); まで, までも (sự giới hạn hoặc mức độ tác động); も (liệt kê, có ý nghĩa giảm nhẹ hoặc tăng cường); や (liệt kê); やら (liệt kê, nghi ngờ); より, よりは, よりも, よりほか, よりしか (sử dụng khi so sánh, giới hạn, hạn chế); は (sử dụng khi nói về chủ đề nào đó); でも (sử dụng khi nêu ý nhẹ nhàng, không chính xác hóa); ながら (có ý nghĩa như そのまま sonomama); や, やい (tiếng kêu).

- Nhóm 2: Các trợ từ chỉ kết hợp với dụng ngôn:

が (kết hợp hai mệnh đề ý nghĩa tương phản); から、からは、からには (chuyển tiếp về trước đến vế sau của câu); けれども (đối lập với vế trước); し (liệt kê, tăng ý nghĩa tình thái); ぜ、ぞ (nhấn mạnh ý nghĩa); そ (giả thiết); て (yêu cầu một cách nhẹ nhàng); と (điều kiện hoặc sự trùng hợp của sự kiện); とも、と (điều kiện, giả thiết); に (chỉ trạng thái, mục đích của hành động); の (kết hợp với từ đứng trước để (danh từ hóa) chuyển từ đó sang thể ngôn); のに (không phụ thuộc vào điều kiện đứng trước); ものか、もんか、もの です か (lối hỏi mỹ từ, lối hỏi có tính khẳng định); もの なら, ことなら (ý giả định, tương tự như なら ở nhóm 1); もの の (có ý nghĩa như けれどめ - tuy, nhưng); もの を, こと を (có ý nghĩa như のに - tuy rằng); よ (chỉ giả thiết); わ, わい (ngữ khí từ); たって, たっても (có ý nghĩa như とて ­- cho rằng); たら, だら, だったら, でしたら (liệt kê những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau); つつ (có ý nghĩa như ながら); て, て-は, で-は, ても, でも (trình bày liên tục, diễn đạt những hoàn cảnh khác nhau, có cả ý nghĩa của から - như vậy, だから - vì vậy, のに - mặc dù); ところが, ところで (kết hợp, liên kết hai câu có ý nghĩa trái ngược nhau, liên kết câu trước với câu sau); ば (điều kiện, giả thiết, liệt kê các hành động, trạng thái, ý nghĩa nguyên nhân).

- Nhóm 3: Trợ từ kết hợp với thể ngôn:

へ (phương hướng, đối tượng); が (biểu thị đối tượng của sự mong muốn, của sở thích hoặc sự ghét bỏ); して (liên kết các hành động và trạng thái); ずつ (chia số lượng); だって (có ý nghĩa như とても); で, でして, ので, のでして, て, でも (địa điểm của hành động, phương tiện, công cụ, sự liên kết các hành động); と (chỉ chủ thể cùng thực hiện hành động); とも (có nghĩa như いしょうに - cùng với); に (địa điểm, thời gian, đối tác, phân phối); の (danh từ hóa); を (chỉ điểm gây ra hành động).

- Nhóm 4: Kết hợp với dụng ngôn và các trợ từ khác:

な, なあ (bày tỏ kiên trì); ね, ねえ (cũng vậy); の, のお (cũng vậy); まま (sự không biến đổi); よ (than vãn); え (cũng vậy).

Mitsuya Shigematsu lại phân chia trợ từ thành ba dạng:

  • Kết hợp với danh từ
  • Kết hợp với động từ
  • Kết hợp với những từ loại khác.

Học giả Yoshika Kyosake cho thêm các dạng nữa như sau:

  • Trợ từ dạng 1: Kết hợp với thể ngôn hoặc những từ có tính chất thể ngôn để xác định quan hệ giữa chúng với các từ khác.
  • Trợ từ dạng 2: Kết hợp với những từ loại khác, biểu hiện những ý nghĩa khác nhau.
  • Trợ từ dạng 3: Kết hợp với gốc (từ căn) của dụng ngôn để liên kết chúng với các từ khác.
  • Trợ từ dạng 4: Khi kết hợp với dụng ngôn ở giữa hoặc cuối câu thì biểu hiện câu hỏi, hoặc sự ra lệnh, sự mong muốn...
  • Trợ từ dạng 5: Được đặt ở giữa hoặc cuối câu để làm nhẹ phát âm hoặc nhấn mạnh trạng thái tình cảm.

Những hướng phân loại trên tuy kết quả cụ thể thu được có khác nhau nhưng nhìn từ góc độ lý luận chung, chúng không khác nhau ở tiêu chí phân loại. Phần lớn các học giả trên đều dựa vào "tiêu chí hình thức", tức là điều kiện sử dụng của trợ từ để phân loại mà bỏ qua một tiêu chí vô cùng quan trọng khác - "tiêu chí nội dung"  , đó là: các quan hệ cơ bản mà trợ từ biểu hiện. Thực ra, đây mới chính là chức năng cơ bản của trợ từ và cũng là điều kiện để nhóm từ này tồn tại trong một ngôn ngữ đa âm tiết chắp dính như tiếng Nhật.

Học giả Yamada Yoshio (1873-1959) là người mở ra một thời kỳ mới trong quá trình nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật khi ông dựa vào hai tiêu chí: điều kiện sử dụng trợ từ và quan hệ mà nó biểu hiện để tiến hành phân loại trợ từ. Từ công trình nghiên cứu này của ông, việc nghiên cứu trợ từ đã tiến thêm một bước mới về chất.

Trong các bài giảng về ngữ pháp tiếng Nhật, Yamada Yoshio đã đưa ra một hệ thống trợ từ liên kết các thành tố các cấp độ dưới đây:

  • Chủ cách: các trợ từ cách の, が, を, に, と, へ, より, から, で.
  • Trạng ngữ: だに, すら, さえ, のみ, ばかり, まで, なで, やら, だけ, ぐらい.
  • Liên từ: ば, と, とも, ど, ども, が, に, を.
  • Quan hệ từ: は, も, ぞ, なむ, こそ, や, か, な, なそ, さえ, でも, ほか, しか.
  • Kết từ: が, がな, か, かな, かし, さ, へ, ぜ, い, な, とも.
  • Thán từ: ご, や, し, な, ね, ぞ.

Học giả cuối cùng mà chúng tôi muốn đề cập đến là ông Mitsuya Kieda (mất năm 1949). Quan điểm phân loại của ông dựa trên cơ sở phân loại chung của tiến sĩ Yamada Yoshio, có chủ trọng thêm một số quan điểm của tiến sĩ Hashimoto Shinkichi. Sở dĩ chúng tôi dừng việc tổng kết các quan điểm phân loại trợ từ tiếng Nhật tại học giả này là vì quan điểm của ông đang được phần lớn các giáo trình tiếng Nhật hiện đại sử dụng.

Trong cuốn "Ngữ pháp tiếng Nhật", quyển I, trang 506-507, Mitsuya sắp xếp trợ từ theo 8 nhóm cơ bản như sau:

  • Trợ từ cách: ga (が), no (の), ni  (に), wo (を), to (と), he (へ), yori (より), kara (から), de (で), tsu (つ), na (な), i (い).
  • Phó trợ từ: dani(だに), sura(すら), sae(さえ), nomi(のみ), bakari(ばかり), made(まで), nado(など), yara(やら), ka(か), dake(だけ), kiri(きり), gurai(ぐらい), zutsu(ずつ), dokoro(どころ), nari(なり).
  • Trợ từ quan hệ: wa(は), mo(も), zo(ぞ), namu(なむ), ya(や), ka(か), koso(こそ), na(な), sae(さえ), demo(でも), hoka(ほか), shika(しか), datte(だって), narito(なりと).
  • Trợ từ tiếp tục: ba(ば), to(と), tomo(とも), do(ど), domo(ども), ni(に), wo(を), ga(が), noni(のに), monowo(ものを), tokoroga(ところが), mo(も), temo(ても), demo(でも), kara(から), made(まで), te(て), shite(して), nagara(ながら), tsutsu(つつ).
  • Trợ từ liệt kê: to(と), ya(や), ka(か), yara(やら), ni(に), nari(なり), no(の), dano(だの), tari(たり).
  • Trợ từ định danh: no(の), zo(ぞ), kara(から), hodo(ほど).
  • Trợ từ kết thúc: ga(が), gana(がな), ka(か), kana(かな), kamo(かも), kashi(かし), na(な), ne(ね), ni(に), ka(か), he(へ), ze(ぜ), tomo(とも), i(い), no(の), yo(よ), sa(さ).
  • Trợ từ trung gian: yo(よ), ya(や), shi(し), zo(ぞ), he(へ), na(な), ne(ね), gana(がな).

Trên đây là những quan điểm phân loại trợ từ đáng lưu ý nhất tính từ thời Minh trị trở đi. Chúng tôi đã trình bày các quan điểm này theo một trình tự lịch sử và dừng lại ở quan điểm của học giả Mitsuya Kieda. Quan điểm của ông được coi là cơ sở của bài giảng ngữ pháp tiếng Nhật ở nhiều trường đại học lớn và cũng đồng thời là quan điểm phân loại mà các giáo trình ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại sử dụng. Cuối cùng, chúng tôi thử đưa ra một sơ đồ  mô hình hóa hệ thống trợ từ tiếng Nhật[10] theo quan điểm của ông Mitsuya Kieda để bạn đọc cùng tham khảo. Tuy nhiên, mỗi trợ từ tiếng Nhật thường có nhiều trường hợp sử dụng, mỗi cách sử dụng có thể đặt trợ từ vào những bình diện khác nhau trong phân loại. Nói một cách khác, mỗi trợ từ có thể có mặt ở nhiều nhóm khác nhau, hoạt động như những từ đồng âm khác nghĩa, Trong trường hợp này, chúng tôi xin lấy ý nghĩa chính (với ý nghĩa này, trợ từ hoạt động với tần số cao nhất) làm cơ sở phân nhóm cho trợ từ.

Với những chia sẻ trên, duhocnhat.co hy vọng sẽ góp được phần nào trong bước đường học tiếng Nhật của bạn. Chúc các bạn thành công!

Duhocnhat.co ST

Cập nhật lần cuối: 11/6/2018 3:22:26 PM

ve trang truocVề trang trước ban inBản in gui emailGửi email


Bài viết liên quan